Cho đến đầu thế
11, Luân Đôn đă trở thành một thành phố
quan trọng và là trung tâm kinh tế, thương
mại của Anh, nhưng lại chưa có tầm
quan trọng bậc nhất về chính trị.
Thời ḱ Anglo Saxon, Winchester giữ vai tṛ là kinh
đô của triều đại này. Sau đó, vua
Edward the Confessor đă xây dựng toà lâu đài tráng
lệ của ḿnh ở Westminster. Từ thế
kỉ 12, với những toà lâu đài kiểu Norman,
Westminster đă có tầm quan trọng tột bậc.
Toà dân sự tối cao và kho bạc quốc gia được
đặt tại nơi này. Tôn giáo, cụ thể là đạo
Thiên chúa thời ḱ này được phát triển
hơn bao giờ hết. Nhà thờ có thế lực
rất lớn, được thể hiện ở
chính những công tŕnh kiến trúc đồ sộ,
lộng lẫy. Old St. Paul's, với những tháp
chuông khổng lồ bằng gỗ (bị phá huỷ
bởi sét đánh 1561) được cho là thánh
đường lớn nhất châu Âu, một ḱ
quan của thế giới. Paul’s Preaching Cross (một
nơi để giảng đạo) trở thành
nơi hội họp quan trọng nhất thời
trung cổ. Ngoài ra, c̣n có rất nhiều tu viện,
những nhà tế bần nằm dưới sự
quản lí của nhà thờ cũng được
xây dựng với công sức và phí tổn không nhỏ... Sang thế kỉ 13, ở Luân Đôn
xuất hiện khá nhiều các giáo sĩ thụôc
các ḍng tu khác nhau : Dominican Friars, Franciscans, Carmelites,
Austin Friars....Những giáo sĩ này đều nhận
được sự ủng hộ của hoàng
gia cũng như hội đồng thành phố
nên mỗi ḍng tu đều t́m được cho
ḿnh một khu vực để đóng “bản
doanh” với những toà nhà nguy nga.: Franciscans định
cư vùng Newgate, Carmelites ở Fleet Street...Hầu
hết những nhà thờ của những ḍng tu
này đến nay đều không c̣n. Chỉ có một
nơi duy nhất c̣n tồn tại trong số những
toà giáo đường của những ḍng tu c̣n
tồn tại là gian giữa của nhà thờ Austin
Friars nhưng cuối cùng vẫn bị phá huỷ
trong chiến tranh thế giới thứ hai. Bản thân giáo hội ở Luân
Đôn cũng có thêm những cung điện rất
lớn (Episcopal Places) trong và ngoài thành phố, ḱnh
địch với cả Westminster.. Lâu đài Ely
(Ely Place) được xây dựng vào năm 1290
là một dinh thự của những giám mục
của thành phố và nhà nguyện của họ
ở St. Etheldreda vẫn tồn tại đến
ngày nay. The Bishops of London cũng ở Fullham cho đến
năm 1973...và c̣n rất nhiều những lâu đài,
những khu nhà lớn khác nằm trong phạm vi
của nhà thờ. So với những thành phố khác
trên ḥn đảo Anh th́ Luân Đôn có nhiều thế
mạnh hơn hẳn về kinh tế.
Dân cư của Luân Đôn rất đông đúc,
v́ vậy thành phố này trở thành một trung
tâm lớn cho việc nhập khẩu hàng hoá và cả
phân phối hàng hóa đến các nơi khác trong
cả nước. Những cảng sông Thames với
nhiều cầu tàu được phát huy hết
công suất khi hàng hoá nhập từ lục địa
đến đ̣i hỏi phải dỡ hàng và xếp
vào kho sớm. Từ thế kỉ thứ 14 trở
đi, những phiên chợ truyền thống đậm
chất thôn dă ngày càng mai một nhường chỗ
cho những hoạt động kinh doanh đầy
năng động. Các thị trưởng của
Luân Đôn thời ḱ này như Richard Whittington, John
Pounteney, John Philpot....cũng cố gắng hết
ḿnh để kinh tế của thành phố sương
mù này được “cất cánh”. Thời ḱ này, các ngành kinh doanh và
nghề thủ công được tổ chức
thành hệ thống chặt chẽ của phường
hội. Mỗi phường hội được
thành lập phải có sự chấp thuận của
hoàng gia mới hợp lệ. Và sự hợp lệ
bị đánh thuế nên một số phường
hội tự thiết lập mà không cần giấy
phép. Do đó, năm 1160, thời vua Henry II, 18 phường
hội bị bắt vạ v́ lí do này. Vào thế
kỉ 15, sản xúât vải là ngành công nghiệp
lớn nhất Anh và một số lượng
lớn được xuất khẩu là từ
Luân Đôn. Do đó, thành phố ngày càng thịnh
vượng, có thể bỏ tiền tài trợ
cho những cuộc xâm lấn ở lănh địa
Pháp của Edward III and Henry V. Sinh thời, vua William rất để
tâm đến Luân Đôn- thành phố quan trọng
nhất trọng vương quốc mới của
ông. Nhà vua cho xây Tháp Luân Đôn ở phía Tây bức
tường thành phố. Toà tháp này không chỉ giúp
ông theo dơi, giám sát được Luân Đôn và c̣n
giúp cho việc bảo vệ thành phố này. Sau
đó, thành Baynard được dựng ở phía
đông với một hệ thống hào được
đào bao quanh. Sau này, người kế nghiệp
ông là William Rusfus xây dựng thêm lâu đài ở Westminter,
củng cố thêm Tháp Luân Đôn và xây lại cầu
sông Thames đang hư hỏng nặng v́ lũ lụt. Đến thế kỉ 15, Luân
Đôn bị lôi cuốn vào t́nh trạng rối
ren của những cuộc nội chiến. Không
hài ḷng với sự hoang phí của Henry VI, thành
phố đă thể hiện thái độ ủng
hộ Edward IV x ứYork. Ngay sau đó, hạm đội
Lancastrian ( gồm những người của Lancastơ
ủng hộ hoàng gia từ năm 1399 đến
1461) bị Luân Đôn từ chối tiếp nhận,
liền tiến hành chiến dịch vây hăm thành
phố. Sau vài ngày oanh tạc Luân Đôn, hạm
đội này đă rút lui tới Kingston. Thời
Richard III, khá nhiều hoàng tử được
thuyết phục rời đến trú ẩn ở
Tháp Luân Đôn “v́ sự an toàn”, nhưng những
chàng trai bất hạnh ḍng dơi hoàng gia này đă không
bao giờ c̣n trông thấy cuộc sống được
nữa v́ những mưu toan chính trị. T́nh trạng
lộn xộn này chỉ chấm dứt khi Henry
II lên ngôi mở đầu cho vương triều
Turdo.
Luân Đôn
và vương triều Turdo Vua Henry II cùng những hoàng đế
triều đại Turdo đă mở ra bước
ngoặt mới cho thành phố Luân Đôn trên tất
cả các phương diện kinh tế , chính trị,
xă hội.... Khởi đầu cho những
đổi thay phải kể đến tôn giáo.
Chưa có thời ḱ nào, tôn giáo của dân Luân Đôn
lại liên tục bị “xuay ṿng”như ở thời
ḱ của các hoàng đế Turdo này. Điều
đáng nói là ở mỗi lần xuay, những dấu
vết đẫm máu lại hiện ra khá rơ rệt. Đầu tiên, phải tính từ
vua Henry III, để có thể “được
li dị” vợ nhà vua đă tuyên bố li khai khỏi
giáo hội La Mă, thành lập Anh giáo. Kể từ
đó ở Luân Đôn cũng như ở toàn bộ
nước Anh, bắt đầu thời ḱ “tan
ră của các tu viện” (Dissolution of the Monasteries),
các nhà thờ theo tôn giáo cũ bị phế bỏ,
một số sửa lại cho các giáo sĩ thế
tục (mục sư) sử dụng. Hầu hết
các giáo phẩm và thầy ḍng đều phục
tùng ư nguyện của nhà vua, chịu để
mất những nhà thờ to lớn cùng những
quyền lợi gắn liền đă có từ lâu
đời. Tuy nhiên, một số giáo sĩ đă
không phục tùng như các cha đạo của
nhà thờ Carthusian ở Smithfied. Binh lính của
nhà vua đă hành h́nh cha bề trên của nhà thờ
này khá man rợ. Họ cho ngựa kéo lê ông trên khắp
phố, rồi đóng đinh vào tay ông treo lên để
cảnh cáo với toàn thể dân chúng c̣n lại.
Tuy nhiên, nhiều người dân Luân Đôn đă
không nhượng bộ trong suốt 3 năm trước
khi 15 người trong số họ bị tử
h́nh v́ vẫn “ngoan cố” với tôn giáo cũ. Sự trớ trêu xảy ra khi vua
Henry III băng hà, con gái ông là Mary lên ngôi nữ hoàng.
Giống như người mẹ Tây Ban Nha của
ḿnh, nữ hoàng mới là một tín đồ Cơ
đốc trung thành và đă đưa đât nước
quay về tôn giáo cũ. Thời ḱ trị v́ của
nữ hoàng Mary ( 5 năm) không phải là thời
gian hạnh hạnh phúc của những người dân London. Nhiều
người đă đi theo đạo Tin lành từ
thời vua Henry đă không cải đạo. Thế
là, chỉ trong ṿng 4 năm, có tới 200 người
Luân Đôn bị hành h́nh bằng cách thiêu cháy v́ không
chịu từ bỏ đức tin của ḿnh. Sau đó, nữ hoàng Elizabeth I lại
đưa đất nước quay về với
Anh giáo nhưng thái độ ôn hoà của nữ
hoàng đă khiến bầu không khí tôn giáo ở
Luân Đôn trở nên dễ chịu hơn. Vấn đề cải cách tôn
giáo ảnh hưởng trước tiên tới
đời sống xă hội, cụ thể là làm
cho sự phân hoá giàu nghèo ngày càng rơ rệt
hơn. Những người nghèo, những người
không nơi nương tựa trong thành phố đă
không c̣n nhận được sự giúp đỡ
từ các tu viện nữa. Cho dù, sau khi giải
tán các tu viện cũ, vua Henry có cho xây dựng một
số cơ sở từ thiện nhằm hạn
chế phần nào những biến động
do ḿnh gây ra. Ông yêu cầu được là người
sáng lập( sáng lập lại) nhà tế bần
St. Bartholomew. Sau đó, ông cho xây dựng nhà thương
St. Thomas. Nhà thương này hiện vẫn c̣n nhưng
đă bị rời đi, vào thế kỉ 19, từ
bờ Southwark của London Bridge tới Lambeth. Ngoài
ra, ông cũng cho xây nhà tế bần Bethlehem chuyên
chữa cho những bệnh nhân mắc chứng
tâm thần....Tuy nhiên, vào những năm cuối
cùng của thời ḱ Elizabeth I, đạo Luật
tế bần (Poor Law Act) được ban hành.
Kể từ đó, những người nghèo càng
khốn khổ hơn.
Sự tan ră của giáo hội cũ
cũng tạo cơ hội cho những toà nhà dân
dụng được h́nh thành. Năm
Năm 1547, công tước của Somerset dùng
đá từ tu viện Clerkenwell Priory và tu viện
St. Paul's Chanel để xây dựng một
lâu đài nguy nga Renaissance
cho ḿnh ở Strand. Kí túc xá Strand và nhà thờ của
Nativity, cũng như những ngôi nhà của những
giám mục Chester và Worcester đă bị xé ngang để
làm đường cho Soumerset
House mới này. Sự thiệt hại này của
nhà thờ cũng đồng nghĩa với những
cơ hội lớn cho những phường hội
ở Luân Đôn khi họ yêu cầu có những
trụ sở tốt từ những cái đă suy
tàn, vô dụng...
Luân Đôn thời Stuart
James
I vốn là vua của Scotland. V́ thế, khi lên ngôi
vào năm 1603 nhà vua đă hậu thuẫn cho ḍng
người Scotland tràn vào cư trú ở Luân Đôn
với những chính sách ưu đăi. Có lẽ,
thành tựu đáng kể nhất thời James I
chỉ là hệ thống cấp nước sạch
cho thủ đô - New River Scheme, được giám
sát trước tiên bởi City Corporation và sau đó
là Hugh Myddelton với sự giúp đỡ
từ nhà vua. Vua James không phải là một hoàng
đế được ưa chuộng, thậm
chí c̣n bị chống đối. Tại buổi
khai mạc của nghị viện tại cung điện
hoàng gia ở Westminter năm 1605, nhà vua đă suưt
bị ám sát. Mưu đồ sặc mùi súng đạn
ấy đă bị lộ và thủ phạm bị
vây bắt. Sang
thời Charles I th́ Luân Đôn tràn ngập không khí
bất ổn. Nhà vua cố t́nh phớt lờ bản
hiến chương tự do mà vua John đă kí từ
những thế kỉ trước, đối
đầu với nghị viện. Luân Đôn
chịu ảnh hưởng rất lớn bơỉ
cuộc nội chiến khi đứng về phía
nghị viện với người lănh đạo
là Cromwell chống lại phe bảo hoàng, bảo
vệ quyền tự do vốn trở thành truyền
thống của ḿnh. May thay, Luân Đôn đă thành
công. Sang
thời ḱ bảo hộ của Cromwell, có một
sự kiện đáng chú ư là cộng đồng
Do Thái quay lại thành phố. Kể từ năm
1292 khi họ bị vua Edward I trục xuất, chỉ
có một vài dấu hiệu nhỏ cho thấy sự
có mặt của họ ở Luân Đôn. Trong thời
nội chiến, Cromwell đă thuê họ cho những
hoạt động bí mật của ḿnh. Luật
Anh không ngăn cấm sự định cư của
người Do Thái. Năm 1657, một hội đạo
Do Thái được mở công khai ở Creechurch
Lane và một nghĩa
địa của họ đă được chỉ
định tại Mile
End. Phục hồi chế độ
quân chủ, nỗi kinh hoàng của bệnh dịch
và hoả hoạn
Ngay từ thời trung cổ, bệnh dịch đă
trở thành một mối nguy hiểm liên miên đối
với nhân dân Anh quốc.
Đến năm 1665, bệnh dịch đă
“bùng nổ”, bắt đầu ở
St. Giles-trên những cánh đồng rồi
trải dài, làm kiệt quệ các vùng Stepney,
Shoreditch, Clerkenwell, Cripplegate, St. Giles's and Westminster.
Tuy nhiên, trong thành phố Luân Đôn, bệnh dịch
được hạn chế tương đối.
Tháng 6 năm đó, nhà vua và cận thần rời Luân
Đôn, không quay lại cho đến tháng 2 năm
sau. Một buổi họp của nghị viện
được tiến hành trong vài ngày ở Oxford
bàn cách đẩy lùi dịch bệnh, ngài thị
trưởng John Lawrence phải chịu trách nhiệm
chính cho thành phố. Người ta đă phải”
lao tâm khổ tứ” trước khi hạn chế
được thứ bệnh truyền nhiễm
chết người ấy. Tuy nhiên, hậu quả
mà nó để lại th́ thật đáng kinh hoàng
: trong gần 100.000 cái chết có trong sổ sách
của Luân Đôn năm 1665 th́ có tới 68.000 là
kết quả của dịch bệnh. Như thể “hoạ vô đơn
chí”, vào thời gian của đám cháy lớn, bệnh
dịch vẫn hoành hành ở Luân Đôn. Sáng sớm
ngày chủ nhật 2/10/1666, tại một cửa
hàng bánh ḿ ở Pudding Lane, gần London Bridge không
rơ lí do ǵ đă bùng cháy. Những ngôi nhà gần đó vốn
dựng san sát nhau và làm bằng gỗ nên nhanh chóng
bắt lửa và ngọn lửa nhanh chóng lan rộng
tới tận bờ sông nơi có một khối
lượng lớn chất đốt được
lưu lại. Lửa cũng sớm phá huỷ
hệ thống cung cấp nước nên những
vùng quanh đó đă không
có nước để
chiến đầu với lửa. Ngọn lửa
lan rộng rất nhanh tới tận trung tâm của
thành phố và sớm đe doạ
Royal Exchange, Lombard Street và Cornhill, một vùng
rất thịnh vượng.
Kết quả của đám cháy
: chỉ có một phần năm thành phố có
tường bao phủ là c̣n lại, với
273 vùng bị cháy. Ngoài thành, 63 vùng bị đổ
nát và tổng 87 nhà thờ đạo và 13,200ngôi
nhà bị mất. Đó là một sự tàn phá khủng
khiếp chưa từng thấy cho đến chiến
tranh thế giới thứ hai với những cuộc
đánh bom chớp nhoáng đầy khốc liệt...
Khôi phục
lại thành phố
Sau đám cháy, thành phố trở
thành trung tâm thương mại rơ rệt hơn.
Những người có máu mặt ( không phải
quí tộc) chọn làm nhà tới phía Tây , ở Covent
Garden và Lincoln's Inn Fields và mở rộng dần
khi thời gian trôi chảy. Đám cháy cũng nêu bật sự
cần thiết của những hoạt động
công cộng. Cho đến sau này, mỗi chủ
hộ đều phải có trách nhiệm trong vấn
đề thắp sáng, tu sửa, quét tước
dọn dẹp đường phố trước
cửa nhà anh ta và giữ trật tự địa
phương . The Sewers Act năm 1671 tạo lập
hội đồng bảo vệ chịu trách nhiệm
trong việc bảo dưỡng, hệ thống
thoát nước và làm sạch đường phố
của Luân Đôn. Chi phí cho hoạt động
này lấy từ thuế địa phương. Charles II là ông vua cuối cùng dám
giới hạn quyền tự do của đă được
thiết lập lâu đời ở thành phố
của Luân Đôn. Nhà vua đă cách chức một
vài uỷ viên hội đồng thành phố năm
1683 và thay thế họ bằng ngướ của
chính ông. Tuy nhiên, việc này không kéo dài bởi năm
1685, nhà vua mất Vua Jame nối nghiệp, nhưng
trong suốt thời ḱ trị v́ ngắn ngủi
của ḿnh, triều đ́nh náo loạn và thành phố
thu hồi được quỳên tự trị
của ḿnh. Tháng 12/1688, Luân Đon ủng hộ
những người trong nghị việc mời
William xứ Orange, con rể vua James về thoán đoạt
ngai vàng. Nhà vua mới rất hài ḷng khi Hampton Court là dinh thự hoàng gia chính của
ông ta. Dinh thự này đă
được xây dựng lại nhiều bởi
ngài Christopher Wren. May
mắn thay, kiến trúc sư này thiếu tiền,
điều này có nghĩa là nhiều kế hoạch
to lớn của ông ta bị làm ngơ và những
toà nhà cổ kính thời Turdo văn tồn tại.
| ||||||||||||||||