Luân đôn thời La Mă

Vào 4000 năm trước công nguyên, khi các bộ lạc thời đồ đá xuất hiện trên đảo Britain th́ vẫn không thấy những dấu tích nào chứng tỏ cổ dân đă sinh sống ở London. Khởi nguyên của thành phố Luân đôn bắt đầu ở thời ḱ người La Mă xuất hiện ở đảo Anh.

Năm 43 sau công nguyên, quân đội La Mă hùng mạnh và thiện chiến xâm lược đảo Britain. Họ di chuyển dần từ vùng biển Kentish, băng qua sông Thames và tiến vào vùng Luân đôn màu mỡ. Có giả thuyết rằng những người lính đă vượt sông tại Lambeth, xuôi theo ḍng chảy, họ xây dựng một cây cầu gỗ khá vững bền, ở phía đông của Cầu Luân đôn ngày nay (London Bridge) rồi ổn định cây cầu này  hơn trong ṿng gần chục năm sau đó. Là một tiêu điểm của hệ thống giao thống La mă, cây cầu  đă thu hút nhiều người khai hoang và bởi lẽ đó Luân đôn bắt đầu những bước tiến của một thành phố thịnh vượng của tương lai. Tiếp đến là sự phát triển của thương mại.

Sông Thames của Luân đôn thời ḱ này cũng chứng tỏ thế mạnh của một con sông có nhiều đặc tính thuận lợi cho phát triển kinh tế. Với mực nước sâu và vẫn chịu ảnh hưởng của thuỷ triều, con sông này là một nơi lí tưởng cho tàu cập bến. Hơn nữa, sông Thames lại là một vùng thông thoát nước và chất đất gần đó thích hợp cho nghề đóng gạch.

Thành phố thịnh vượng xuất hiện ở buổi đầu công nguyên này có tên là Londinium (sau này thành London). Cái tên này là tiếng Xentơ (Celtic) chứ không phải là tiếng Latinh. V́ vậy, rất có thể, thành phố cổ xưa này có liên quan đến những trang trại đă có trước khi người La Mă xuất hiện.


Buổi đầu xâm lược Luân Đôn, quân La Mă đă vấp phải sự kháng cự của bộ lạc địa phương. Năm 60, vùng Luân đôn bị thiêu trụi bởi cuộc khởi nghĩa của bộ lạc Iceni do nữ hoàng Boudica lănh đạo. Cuộc khởi nghĩa này cuối cùng bị d́m trong biển máu. Cũng kể từ đó, người La Mă ư thức rất rơ vị trí quan trọng của Luân Đôn. Họ hiểu rằng đây là nơi thuận tiện nhất để đi đến bất ḱ nơi nào ở Anh và cả chính quốc ở lục địa.

Từ những năm 50 của thế kỉ thứ ba, thống đốc La Mă Marcus Martiannius Pulcher cho xây dựng lại ngôi đền của người Isis ở Luân đôn. Đây là một công tŕnh khá phức tạp với những thư pḥng và pḥng khách lớn, đă được khai quật một phần bên dưới nhà ga Cannon Street. Có thể các cung điện này được xây để phục vụ cho người La mă. Toà lâu đài nguy ngă thứ hai được khám phá mới đây nằm trong khu thương mại Southwark phía nam song Thames.

Sau cuộc khởi nghĩa của Boudica, toàn quyền xứ Britain người La Mă -  Gaius Julius Alpinus Classicianus đă xây dựng lại thành phố  và đẩy mạnh thương mại. Khi viên thống sứ này mất, người ta mai táng ông ở nơi này. Một phần của tấm bia mộ hoành tráng của ông đă được khai quật và hiện đang triển lăm tại bảo tàng British. Những viên gạch và những bản khắc chữ cũng thấy kèm theo “ thông điệp” : “được phát hành bởi toàn quyền cai trị tỉnh Britain”.

Vào đầu thiên niên kỉ thứ nhất, tôn giáo ở Luân đôn chưa rơ rệt. Người La Mă đă áp đặt một tôn giáo cho nơi này bằng cách dựng ngôi đền thể hiện sự sùng kính hoàng đé chính quốc. Ngôi đền này do hội đồng tỉnh quản lí. Tuy nhiên, ở khu vực của những kẻ giang hồ, sự sùng bái ngoại giáo phát triển mạnh mẽ. Người ta t́m thấy ở một ngôi đền thờ một vị thần phương đông là Mithras ở Bucklersbury House và được triển lăm ở gần đó. và ngôi đền thờ thần Diana ở vị trí của St.Paul.

Ngoá những công tŕnh kiến trúc mang màu sắc tôn giáo c̣n có nhiều công tŕnh dân dụng quan trọng khác, được xây dựng ở ngay thế kỉ thứ nhất, khi thành phố dă trở nên phồn vinh hơn. Đó là quần thể chợ và pháp đ́nh (law-courts), ở Leadenhall Market được qui hoạch chặt chẽ ở phía bắc Alps. Chính quyền la Mă khuyến khích dân chúng sử dụng những nhà tắm công cộng - một loại h́nh phục vụ cho sinh hoạt cộng đồng khá phổ biến nơi chính quốc.  Người ta đă t́m thấy dấu tích của những nhà tắm kiểu này ở Luân đôn khi khai quật tại Upper Thames Street. Ngoài ra, những đài cuốn bằng gỗ dựng ở vùng ngoại ô thành phố cũng rất có sức hấp dẫn. Những đấu trường cũng được đặt tại đây với một vài môn thể thao, thông dụng hơn cả với dân Luân đôn là tṛ trêu gấu (thả chó săn trêu một con gấu bị xích).



   


Ngoá những công tŕnh kiến trúc mang màu sắc tôn giáo c̣n có nhiều công tŕnh dân dụng quan trọng khác, được xây dựng ở ngay thế kỉ thứ nhất, khi thành phố dă trở nên phồn vinh hơn. Đó là quần thể chợ và pháp đ́nh (law-courts), ở Leadenhall Market được qui hoạch chặt chẽ ở phía bắc
Alps. Chính quyền la Mă khuyến khích dân chúng sử dụng những nhà tắm công cộng - một loại h́nh phục vụ cho sinh hoạt cộng đồng khá phổ biến nơi chính quốc.  Người ta đă t́m thấy dấu tích của những nhà tắm kiểu này ở Luân đôn khi khai quật tại Upper Thames Street. Ngoài ra, những đài cuốn bằng gỗ dựng ở vùng ngoại ô thành phố cũng rất có sức hấp dẫn. Những đấu trường cũng được đặt tại đây với một vài môn thể thao, thông dụng hơn cả với dân Luân đôn là tṛ trêu gấu (thả chó săn trêu một con gấu bị xích).


Về mặt địa lí, vào khoảng đầu thế kỉ thứ hai, Luân đôn đă được mở rộng đến phía tây của vùng Walbrook, một pháo đài quân sự cũng được thiết gần đài ṿng vốn đă được xây lại bằng đá. Những đài ṿng có thể được sử dụng cho những bài tập quân sự của quân đội. Sang thế kỉ thứ ba, thành phố xuất hiện những thành luỹ nổi tiếng, cao đến 20 ft, có lẽ được xây dựng từ nỗi lo lắng bởi cuộc nội chiến nơi chính quốc.

 

Vào khoảng năm 200, Britan được chia làm hai phần: York là thủ phủ của  Britannia Inferior và Luân đôn là thủ phủ của Britannia Superior. Một thế kỉ sau đó,  hoàng đế  Diocletian lại tổ chức lại Britain nhằm cải tiến hiệu quả hành chính ở xứ sở này. Luân Đôn trở thành thủ phủ của Maxima Caesariensis, một trong 4 tỉnh được tạo lập khi ấy. Dù vậy, thành phố này vẫn là trung tâm tài chính của Britain. Năm 288, một sở đúc tiền được thiết lập ở nơi này.

 

Nửa cuối thế kỉ thứ 4, người Picts và Irishmen (thuộc Ai len) xâm lược phía nam đảo Anh. Quân đội của hoàng đế  Julian đă đánh đuổi họ và sử dụng Luân đôn như một cơ quan đầu năo cho các chiến dịch. Ngay sau đó, thành phố lại được đổi tên là Augusta, với uy thê ngày càng tăng.


Tuy nhiên, đến cuối thê kỉ thứ 4, quân đội La Mă đóng trên đảo Anh phải rút dần về chính quốc đối phó với những cuộc chiến lâu dài. Quyền lực của đế quốc này ngày càng mờ nhạt dần, ở Anh nói chung cũng như Luân Đôn nói riêng. Đến năm 410, La Mă hoàn toàn từ bỏ “ nghĩa vụ với Britain” của ḿnh, rút hết quân về nước.  Luân Đôn bước vào một thời ḱ mới.

 



Luân Đôn thời Anglo- Saxon

Bóng dáng của người La Mă cuối cùng biến mất khỏi Luân Đôn chưa được bao lâu th́ thành phố này lại bắt đầu in đậm dấu chân của những kẻ nhập cư mới : Anglo Saxon đến từ Bắc Âu. Vào những năm 50 của thế kỉ thứ 5, người Saxon với sức mạnh và sự khôn ngoan hiển nhiên của những kẻ rời quê hương đến những vùng đất mới đă nhanh chóng thay thế vị trí của người La Mă tại mảnh đất bên ḍng sông Thames thơ mộng.

 

Đặt ách cai trị trên toàn Britain, người Anglo Saxon đă chia ḥn đảo này thành nhiều vương quốc nhỏ. Luân Đôn nằm trong vương quốc của Đông Saxon (East Saxon). Tuy nhiên, những người Saxon dù mới đến cũng ư thức được tầm quan trọng của thành phố này, và thế là nó được nằm dưới sự lănh đạo trực tiếp của các lănh chúa Essex, những ông vua khác nhau của . Kent, Mercia hoặc Wessex.

 

Cuối thế kỉ thứ sáu, đầu thế kỉ thứ 7,  đạo Thiên chúa bắt đầu thâm nhập vào đời sống tinh thần của người dân vùng Luân Đôn. Năm 597, vua Athelbert của vương quốc Kent dựng một thánh đường đầu tiên St.Paul ở vùng Ludgate, thay thế cho ngôi đền Saxon ngoại giáo.  Luân Đôn trở thành một trong những tổng giám mục của cả nước. Năm 604, vua Aethebeth và vua Saebert của Essex lại thành lập St.Mellitus, mở rộng thêm địa bàn của tôn giáo mới. Tuy nhiên, hai nhà bảo trợ tôn giáo này lại mất 12 năm sau đó, Essex và Luân Đôn quay lại thời  ḱ ngoại giáo và thánh đường Mellitus bị xóa sổ khỏi thành phố. Măi tới năm 675, đạo Cơ đốc mới lấy lại được vị trí quan trọng trong đời sống tinh thần của người dân Luân Đôn.

 

Nửa sau thế kỉ thứ 7, hoạt động thương mại của Luân Đôn phát triển khá mạnh. Lundenwic- một vùng nổi tiếng của những năm 70 thế kỉ này trở thành một khu chợ thịnh vượng: khu chợ cho những người đến từ đất liền và cả biển khơi. Khu thanh lũy phía Tây của thành phố cũng tự phát huy thế mạnh kinh tế khi trở thành ranh giới của một nhóm vương quốc. Ngoại thương cũng phát triển khá mạnh. Những di vật mà khảo cổ học t́m được nơi đây có niên đại thời ḱ này là đồ gốm và cối đá do những người Đức hoặc Pháp chế tác cho thấy những con tàu ngoại quốc cũng thường xuyên qua lại nơi đây.

 

Tuy nhiên, vào nửa đầu thế kỉ thứ 9, những cuộc tấn công của người Viking bắt đầu trở nên rơ rệt ở Anh và nguy cơ của một cuộc xâm lược không c̣n nghi ngờ ǵ. Năm 865, đội quân dị giáo Viking  tràn lên vùng Đông Anglia, cướp bóc, phá phách trên đường hành quân khắp đất nước. Mùa đông năm 871-872, Luân Đôn trở thành nơi trú chân tránh rét của người Viking. Chỉ có vương quốc Wessex của vua Alfred là vẫn cố thủ được trong thời gian này. Tuy nhiên, sau đó vài năm, bởi sự cố gắng quyết liệt của vua Alfred , người Viking bị đẩy lùi và phải trở lại nơi xuất phát là biển cả. Vua Alfred trở thành vua của toàn bộ những người sống trên đảo Britain, tất nhiên trong đó có dân Luân Đôn.

 

Sau đó, Luân Đôn nằm dưới sự điều hành trực tiếp của các vua Anh và trở thành trung tâm thương mại quan trọng nhất đất nước. Một số nghề thủ công cũng khá phát triển thời ḱ này như trang trí vật dụng bằng kim loại, dệt vải...Các vua Anh cũng cử người của ḿnh làm thị trưởng Luân Đôn để chịu trách nhiệm thu thuế và đảm bảo việc thực thi pháp luật của dân nơi này. Đầu thế kỉ thứ 10, thành phố lại được chia thành 20 phường , mỗi phường có một người chịu trách nhiệm  quản lí. Hội Bảo an (peace guild) cũng dược thiết lập để truy kích tội phạm. Nh́n chung Luân Đôn từ thời ḱ này đă được tổ chức rất qui củ.

 

Vua Aethelred rất có thiện ư với Luân Đôn và coi thành phố này như thể là kinh đô của vương quốc ḿnh. Năm 978, nhà vua cho ban hành luật riêng cho Luân Đôn ( Laws of London) thừa nhận một số đặc quyền cho thành phố này.

Tuy nhiên, cuối thế kỉ thứ 10, đầu thế kỉ 11, thành phố Luân đôn lại phải bước vào một thời ḱ hỗn loạn bởi những cuộc tranh chấp quyền bính bên cạnh những cuộc tái tấn công của người Viking. Năm 1013, vua Aethelred phải bỏ trốn ra nứơc ngoài v́ một âm mưu thoán đoạt của một kẻ dưới quyền. Trong khi đó, Canute- thủ lĩnh của người Viking dẫn quân tràn vào thành phố. Con trai vua Aethelred là Edmund cố gắng ngăn chặn những kẻ xâm lược, bảo vệ Luân Đôn. Tuy nhiên, do thế yếu bởi “thù trong giặc ngoài”, Edmund buộc phải chia sẻ đất nước với Canute. Rồi cũng không may mắn ǵ hơn phía Edmund, nội bộ của chính quyền Canute cũng chẳng yên b́nh,  những cuộc tranh giành quyền bính cũng liên tục diễn ra với những âm mưu đẫm máu.

 

In 1042, con nuôi của Canute, vua Edward the Confessor dơng dơi Saxon được trao ngai vàng Anh. Khi lên ngôi, nhà vua đă hạn chế những hội đồng hoàng gia, chỉ hội họp ở một vài trung tâm lớn như: : Gloucester, Winchester và tất nhiên là Luân Đôn. Edward là người rất sùng đạo, ông cho sáng lập lại Abbey ở Westminster, cùng với lâu đài bên cạnh. Việc xây dựng được hoàn thành vào năm 1066, chỉ vài tuần trước cái chết của Edward.

 

Vua Edward không có người thừa tự rơ ràng. Do đó, Bá tước Harold vùng Đông Anglia được hội đồng hoàng gia tôn làm vua. Tuy nhiên, anh họ của Edward là công tước William xứ Normandy tấn công nước Anh ngay khi Harold chưa kịp làm lễ lên ngôi. Thành Luân Đôn đă gửi những con em ưu tú của ḿnh giúp sức cho bá tước Harold ngăn chặn mưu đồ xâm lược. Tuy nhiên, trong trận Hasting, họ đă không thành công. William xứ Normandy giành lấy ngai vàng của ông vua hụt Harold và ngạo nghễ ăn mừng chiến thắng.

 

 

Luân Đôn dưới triều đại Norman - tự do cho dân thành thị


Trong suốt thời ḱ trung cổ, dưới triều của các ông vua người
Norman, người dân Luân Đôn đă có được bản hiến chương mở rộng quyền tự do của ḿnh. Tuy nhiên, cũng trong suốt thời ḱ  này, họ đă phải đấu tranh quyết liệt để bảo vệ quyền tự do đă được công nhận đó. Chính v́ vậy, không giống như nhiều thành phố lớn của châu Âu thời trung cổ đang bị vây hăm bởi chính quyền chuyên chế và nạn cát cứ, kinh tế của Luân Đôn được phát triển theo khả năng cuả ḿnh.

 

Sau thắng lợi trận Hastings, quân đội của William đă tàn phá nhiều vùng ḥng khuất phục người Anh. Tuy nhiên, dù đă đốt cháy cả Southwark, ông ta vẫn chưa định tiến vào Luân Đôn, chỉ dừng lại ở Berkhamsted chờ đợi dân chúng của thành phố bên bờ sông Thames tự giác công nhận ông ta là hoàng đế. “Sự đă rồi” nên người dân London nhanh chóng ưng thuận và quyết định mau lẹ, hợp thời của họ đă khiến ông vua mới rất hài ḷng. Trong tâm trạng vui vẻ, nhà vua “phóng bút” chấp nhận bản hiến chương công nhận những quyền tự do riêng của Luân Đôn -  hiến chương đầu tiên trong triều đại của ông. Tài liệu giấy sơ sài này c̣n tồn tại đến ngày nay,  không đề ngày tháng nhưng vẫn chỉ ra rằng nó được làm tại  Berkhamsted và  được phê chuẩn ở Luân Đôn sau đó.

 

Tự do của dân thành thị Luân Đôn, điều đă có từ những năm trước, giờ đă được công nhận bằng luật. Sự “biệt đăi” ngoại lệ này đối với Luân Đôn được bảo đảm bởi nhà vua và được hưởng sự che chở của ngài. Phát huy thế mạnh của ḿnh, thành phố trở thành một  trung tâm thương mại nổi bật của đất nước, vững bền theo thời gian. Chính quyền của thành phố này gồm cả thế tục dưới quyền thị trưởng và giáo hội dưới quyền giám mục.

 

Vai tṛ của thị trưởng ở Luân Đôn được thừa nhận dưới thời Richard the Lionheart và thậm chí c̣n được nâng cao hơn nữa thời vua John. Giúp việc cho thị trưởng là hội đồng thành phố Có lẽ Luân Đôn là thành phố đầu tiên được quản lí trực tiếp bởi thị trưởng và một hội đồng tư vấn và giúp việc cho thị trưởng. Mô h́nh này được áp dụng cho các đô thị khác và Luân Đôn cũng phải “ cạnh tranh” với những đô thị này và với những bản hiến chương của họ.

 

Năm 1215, dưới sức ép của các nam tước nổi loạn trên khắp các địa hạt nước Anh, vua John phải kí một bản hiệp ước Magna Carta, c̣n gọi là bản Hiến chương tự do, mở rộng quyền tự quyết cho các lănh địa, trong đó có Luân Đôn. Kể từ khi có bản hiến chương này, người dân Luân Đôn được tự do lựa chọn người lănh đạo theo h́nh thức tuyển cử. Người đắc cử sau đó sẽ tổ chức một buổi lễ, nhà vua hoặc thủ tướng sẽ thể hiện thái độ tán thành sự lựa chọn của mọi người. Thị trưởng được lựa chọn theo h́nh thức dân chủ sẽ làm việc theo nhiệm ḱ và có nhiệm vụ bảo vệ quyền tự do cho thành phố.

Đến cuối thế kỉ thứ 13, vua Henry III  và Edward I   lại muốn kiểm soát chặt chẽ hơn thành phố Luân Đôn. Một số thị trưởng đă bị cách chức và thay thế cho họ là những nhân vật có nhiệm vụ giám sát của hoàng gia. Nguy cơ “vào tay nhà vua” của Luân Đôn là khá rơ ràng. V́ thế,  cuộc đấu tranh chống lại sự khắc nghiệt của hoàng gia lại bắt đầu nổ ra. Một số người dân Luân Đôn đă tham gia ủng hộ Simon de Montfort chống lại Henry III trong trận Lewes năm 1264. Cuối cùng Henry III buộc phải chấp nhận cai trị Luân Đôn thông qua đại diện của họ.

Thời ḱ này dân Luân Đôn có xu hướng sống co cụm dọc bờ sông. Thành phố càng ngày càng chật hẹp, g̣ bó và thi thoảng lại bị tàn phá bởi những vụ hoả hoạn. Nhằm hạn chế những thiệt hại này, thị trưởng Fitz Ailwyn đă thông qua nghị việc một đạo luật về xây dựng nghiêm cấm dùng những mái nhà lợp rạ và dùng đá để tạo dựng những bức tường ngăn.

       


Có lẽ, thành tựu xây dựng quan trọng nhất của Luân Đôn thời ḱ trung cổ là sự thay thế cây cầu gỗ bằng một cây cầu đá. Công tŕnh này bắt đầu từ thựi vua John và  phải mất 30 năm mới hoàn thành, tồn tại khá lâu đời để rồi cuối cùng bị tháo bỏ năm 1832. Đặc trưng thú vị của cây cầu này là đó là một cây cầu kéo.

 

Cho đến đầu thế 11, Luân Đôn đă trở thành một thành phố quan trọng và là trung tâm kinh tế, thương mại của Anh, nhưng lại chưa có tầm quan trọng bậc nhất về chính trị. Thời ḱ Anglo Saxon, Winchester giữ vai tṛ là kinh đô của triều đại này. Sau đó, vua Edward the Confessor đă xây dựng toà lâu đài tráng lệ của ḿnh ở Westminster. Từ thế kỉ 12, với những toà lâu đài kiểu Norman, Westminster đă có tầm quan trọng tột bậc. Toà dân sự tối cao và kho bạc quốc gia được đặt tại nơi này.

 

Tôn giáo, cụ thể là đạo Thiên chúa thời ḱ này được phát triển hơn bao giờ hết. Nhà thờ có thế lực rất lớn, được thể hiện ở chính những công tŕnh kiến trúc đồ sộ, lộng lẫy. Old St. Paul's, với những tháp chuông khổng lồ bằng gỗ (bị phá huỷ bởi sét đánh 1561) được cho là thánh đường lớn nhất châu Âu, một ḱ quan của thế giới. Paul’s Preaching Cross (một nơi để giảng đạo) trở thành nơi hội họp quan trọng nhất thời trung cổ. Ngoài ra, c̣n có rất nhiều tu viện, những nhà tế bần nằm dưới sự quản lí của nhà thờ cũng được xây dựng với công sức và phí tổn không nhỏ... 

 

Sang thế kỉ 13, ở Luân Đôn xuất hiện khá nhiều các giáo sĩ thụôc các ḍng tu khác nhau : Dominican Friars, Franciscans, Carmelites, Austin Friars....Những giáo sĩ này đều nhận được sự ủng hộ của hoàng gia cũng như hội đồng thành phố nên mỗi ḍng tu đều t́m được cho ḿnh một khu vực để đóng “bản doanh” với  những toà nhà nguy nga.: Franciscans định cư vùng Newgate, Carmelites ở Fleet Street...Hầu hết những nhà thờ của những ḍng tu này đến nay đều không c̣n. Chỉ có một nơi duy nhất c̣n tồn tại trong số những toà giáo đường của những ḍng tu c̣n tồn tại là gian giữa của nhà thờ Austin Friars nhưng cuối cùng vẫn bị phá huỷ trong chiến tranh thế giới thứ hai.

 

Bản thân giáo hội ở Luân Đôn cũng có thêm những cung điện rất lớn (Episcopal Places) trong và ngoài thành phố, ḱnh địch với cả Westminster.. Lâu đài Ely (Ely Place) được xây dựng vào năm 1290 là một dinh thự của những giám mục của thành phố và nhà nguyện của họ ở St. Etheldreda vẫn tồn tại đến ngày nay. The Bishops of London cũng ở Fullham cho đến năm 1973...và c̣n rất nhiều những lâu đài, những khu nhà lớn khác nằm trong phạm vi của nhà thờ.

 

So với những thành phố khác trên ḥn đảo Anh th́ Luân Đôn có nhiều thế mạnh hơn hẳn về kinh tế.  Dân cư của Luân Đôn rất đông đúc, v́ vậy thành phố này trở thành một trung tâm lớn cho việc nhập khẩu hàng hoá và cả phân phối hàng hóa đến các nơi khác trong cả nước. Những cảng sông Thames với nhiều cầu tàu được phát huy hết công suất khi hàng hoá nhập từ lục địa đến đ̣i hỏi phải dỡ hàng và xếp vào kho sớm. Từ thế kỉ thứ 14 trở đi, những phiên chợ truyền thống đậm chất thôn dă ngày càng mai một nhường chỗ cho những hoạt động kinh doanh đầy năng động. Các thị trưởng của Luân Đôn thời ḱ này như Richard Whittington, John Pounteney, John Philpot....cũng cố gắng hết ḿnh để kinh tế của thành phố sương mù này được “cất cánh”.

 

Thời ḱ này, các ngành kinh doanh và nghề thủ công được tổ chức thành hệ thống chặt chẽ của phường hội. Mỗi phường hội được thành lập phải có sự chấp thuận của hoàng gia mới hợp lệ. Và sự hợp lệ bị đánh thuế nên một số phường hội tự thiết lập mà không cần giấy phép. Do đó, năm 1160, thời vua Henry II, 18 phường hội bị bắt vạ v́ lí do này. Vào thế kỉ 15, sản xúât vải là ngành công nghiệp lớn nhất Anh và một số lượng lớn được xuất khẩu là từ Luân Đôn. Do đó, thành phố ngày càng thịnh vượng, có thể bỏ tiền tài trợ cho những cuộc xâm lấn ở lănh địa Pháp của Edward III and Henry V.

 

Sinh thời, vua William rất để tâm đến Luân Đôn- thành phố quan trọng nhất trọng vương quốc mới của ông. Nhà vua cho xây Tháp Luân Đôn ở phía Tây bức tường thành phố. Toà tháp này không chỉ giúp ông theo dơi, giám sát được Luân Đôn và c̣n giúp cho việc bảo vệ thành phố này. Sau đó, thành Baynard được dựng ở phía đông với một hệ thống hào được đào bao quanh. Sau này, người kế nghiệp ông là William Rusfus xây dựng thêm lâu đài ở Westminter, củng cố thêm Tháp Luân Đôn và xây lại cầu sông Thames đang hư hỏng nặng v́ lũ lụt.

 

Đến thế kỉ 15, Luân Đôn bị lôi cuốn vào t́nh trạng rối ren của những cuộc nội chiến. Không hài ḷng với sự hoang phí của Henry VI, thành phố đă thể hiện thái độ ủng hộ Edward IV x ứYork. Ngay sau đó, hạm đội Lancastrian ( gồm những người của Lancastơ ủng hộ hoàng gia từ năm 1399 đến 1461) bị Luân Đôn từ chối tiếp nhận, liền tiến hành chiến dịch vây hăm thành phố. Sau vài ngày oanh tạc Luân Đôn, hạm đội này đă rút lui tới Kingston. Thời Richard III, khá nhiều hoàng tử được thuyết phục rời đến trú ẩn ở Tháp Luân Đôn “v́ sự an toàn”, nhưng những chàng trai bất hạnh ḍng dơi hoàng gia này đă không bao giờ c̣n trông thấy cuộc sống được nữa v́ những mưu toan chính trị. T́nh trạng lộn xộn này chỉ chấm dứt khi Henry II lên ngôi mở đầu cho vương triều Turdo.

 

 

 

Luân Đôn và vương triều Turdo

 

Vua Henry II cùng những hoàng đế triều đại Turdo đă mở ra bước ngoặt mới cho thành phố Luân Đôn trên tất cả các phương diện kinh tế , chính trị, xă hội....

 

Khởi đầu cho những đổi thay phải kể đến tôn giáo. Chưa có thời ḱ nào, tôn giáo của dân Luân Đôn lại liên tục bị “xuay ṿng”như ở thời ḱ của các hoàng đế Turdo này. Điều đáng nói là ở mỗi lần xuay, những dấu vết đẫm máu lại hiện ra khá rơ rệt.

 

Đầu tiên, phải tính từ vua Henry III, để có thể “được li dị” vợ nhà vua đă tuyên bố li khai khỏi giáo hội La Mă, thành lập Anh giáo. Kể từ đó ở Luân Đôn cũng như ở toàn bộ nước Anh, bắt đầu thời ḱ “tan ră của các tu viện” (Dissolution of the Monasteries), các nhà thờ theo tôn giáo cũ bị phế bỏ, một số sửa lại cho các giáo sĩ thế tục (mục sư) sử dụng. Hầu hết các giáo phẩm và thầy ḍng đều phục tùng ư nguyện của nhà vua, chịu để mất những nhà thờ to lớn cùng những quyền lợi gắn liền đă có từ lâu đời. Tuy nhiên, một số giáo sĩ đă không phục tùng như các cha đạo của nhà thờ Carthusian ở Smithfied. Binh lính của nhà vua đă hành h́nh cha bề trên của nhà thờ này khá man rợ. Họ cho ngựa kéo lê ông trên khắp phố, rồi đóng đinh vào tay ông treo lên để cảnh cáo với toàn thể dân chúng c̣n lại. Tuy nhiên, nhiều người dân Luân Đôn đă không nhượng bộ trong suốt 3 năm trước khi 15 người trong số họ bị tử h́nh v́ vẫn “ngoan cố” với tôn giáo cũ.

 

Sự trớ trêu xảy ra khi vua Henry III băng hà, con gái ông là Mary lên ngôi nữ hoàng. Giống như người mẹ Tây Ban Nha của ḿnh, nữ hoàng mới là một tín đồ Cơ đốc trung thành và đă đưa đât nước quay về tôn giáo cũ. Thời ḱ trị v́ của nữ hoàng Mary ( 5 năm) không phải là thời gian hạnh hạnh phúc của  những người dân London. Nhiều người đă đi theo đạo Tin lành từ thời vua Henry đă không cải đạo. Thế là, chỉ trong ṿng 4 năm, có tới 200 người Luân Đôn bị hành h́nh bằng cách thiêu cháy v́ không chịu từ bỏ đức tin của ḿnh.

 

Sau đó, nữ hoàng Elizabeth I lại đưa đất nước quay về với Anh giáo nhưng thái độ ôn hoà của nữ hoàng đă  khiến bầu không khí tôn giáo ở Luân Đôn trở nên dễ chịu hơn.

 

Vấn đề cải cách tôn giáo ảnh hưởng trước tiên tới đời sống xă hội, cụ thể là làm cho  sự phân hoá giàu nghèo ngày càng rơ rệt hơn. Những người nghèo, những người không nơi nương tựa trong thành phố đă không c̣n nhận được sự giúp đỡ từ các tu viện nữa. Cho dù, sau khi giải tán các tu viện cũ, vua Henry có cho xây dựng một số cơ sở từ thiện nhằm hạn chế phần nào những biến động do ḿnh gây ra. Ông yêu cầu được là người sáng lập( sáng lập lại) nhà tế bần St. Bartholomew. Sau đó, ông cho xây dựng nhà thương St. Thomas. Nhà thương này hiện vẫn c̣n nhưng đă bị rời đi, vào thế kỉ 19, từ bờ Southwark của London Bridge tới Lambeth. Ngoài ra, ông cũng cho xây nhà tế bần Bethlehem chuyên chữa cho những bệnh nhân mắc chứng tâm thần....Tuy nhiên, vào những năm cuối cùng của thời ḱ Elizabeth I, đạo Luật tế bần (Poor Law Act) được ban hành. Kể từ đó, những người nghèo càng khốn khổ hơn. 


   


Sự suy sụp của tu viện cũng khiến hệ thống giáo dục công cộng của thành phố trở nên trống rỗng. Trước t́nh trạng đó, trường Christ's Hospital được thành lập để phục vụ sự nghiệp giáo dục những trẻ em nghèo. Ngôi trường này được tạo lập từ những toà nhà Greyfriar ở Newgate là sự cố gắng lớn của các thương nhân thành phố khi t́m lối thoát cho việc thiết lập một hệ thống gíao dục mới. Kể từ đó, nhiều trường nội trú nổi tiếng cũng được được kiến tạo bởi sự hào phóng của các thương nhân Luân Đôn gồm : Charterhouse, St. Paul's,  City of London School, the Merchant Taylors' and Mercers' Schools...


Chịu ảnh hưởng của sự thay đổi tôn giáo c̣n phải kể đến phương diện kiến trúc của thành phố. Khác với thời ḱ Norman, những công tŕnh kiến trúc có niên đại thời Turdo không chịu ảnh hưởng nhiều của giáo hội mà là các ông hoàng bà chúa. Vua Henry VII nổi tiếng với Palace of Sheen ( cung điện của sự huy hoàng). Khi cung điện nguy nga này bị thiêu huỷ năm 1498, nhà vua đă cho xây lại và đặt lại tên là Richmond Palace. Ông chết ở đó vào năm 1509.


Con trai của Henry VII là Henry VIII cũng là một người khá “hoang tàn” trong việc xây dựng hoặc tu bổ những lâu đài.. Ông mở rộng  York House, dinh thự của tổng giám mục York, trở thành lâu đài của Whitehall ( thuộc chính phủ Anh), nối  Westminster với Charing Cross. Ông cũng dựng lâu đài Bridewell , phía nam của Fleet Street....Tuy nhiên, Toà dinh thự yêu thích của Henry là lâu đài Greenwich, nơi mà nhà vua  đă sinh ra và do đó nơi này là bối cảnh cho nhiều t́nh tiết lịch sử quan trọng trong suốt thời của ông. 

 

Sự tan ră của giáo hội cũ cũng tạo cơ hội cho những toà nhà dân dụng được h́nh thành. Năm  Năm 1547, công tước của Somerset dùng đá từ tu viện Clerkenwell Priory và tu viện St. Paul's Chanel để xây dựng một  lâu đài nguy nga  Renaissance cho ḿnh ở  Strand. Kí túc xá Strand và nhà thờ của Nativity, cũng như những ngôi nhà của những giám mục Chester và Worcester đă bị xé ngang để làm đường cho  Soumerset House mới này. Sự thiệt hại này của nhà thờ cũng đồng nghĩa với những cơ hội lớn cho những phường hội ở Luân Đôn khi họ yêu cầu có những trụ sở tốt từ những cái đă suy tàn, vô dụng...

 

Tuy nhiên, sự cải cách tôn giáo đă đem lại cho kinh tế - xă hội Luân Đôn nhũng thành tựu đáng kể. Có thể, giáo hội cũ với thế lực to lớn mai một  đi đồng nghĩa với tự do cho dân thành thị tăng cao hơn, và v́ thế con người nơi đây có nhiều cơ hội phát triển.

Thời ḱ trị v́ của nữ hoàng Elizabeth cũng là giai đoạn  huy hoàng của nhà hát Anh quốc. Người dân Luân Đon hàng đêm lũ lượt tới  Southwark như đến kinh đô giải trí của thành phố. Ở đây có những rạp hát nổi tiếng như Hope, the Swan, và đặc biệt là Rose, và Globe( hai nơi làm việc của William Shakespeare). Ngoài đi xem kịch, dân Luân Đôn cũng bị lôi cuốn vào nhiều tṛ giải trí tầm thường hơn  như tṛ trêu gấu, tṛ chọi gà... Southwark c̣n nổi tiếng với cả những “ lady of night” - những người đàn bà “làm việc” trong những nhà thổ trên mảnh đất  Bishop of Winchester .

       


Năm 1588, hạm đội Armada của Tây Ban Nha xâm lược Anh, nhưng nhanh chóng bị thất bại bởi sự dũng cảm mưu trí của những người dân xứ sương mù, trong đó phải kể đến những người Luân Đôn trung kiên. Sau đó, Anh trở thành đế quốc hùng mạnh trên vũ đài chính trị thế giới. Kinh tế Anh cũng theo đà đó phát triển vượt bậc, nhất là Luân Đôn. Sự  tăng trưởng rơ rệt về kinh tế khiến dân số Luân Đôn cũng tăng theo. Lúc này, trung tâm của thành phố được tập trung ở những khu vực mới xây dựng quanh những vùng đất tịch thu  từ nhà thờ. Những thị dân giàu bắt đầu dọn tới phía Tây thành phố dọc theo sông Thames nơi có nhiều lâu đài của giáo hội được xây lại cho giới quí tộc sử dụng.

 

 

Luân Đôn thời Stuart

Kế nghiệp nữ hoàng Elizabeth là vua James I . Luân Đôn dưới sự cai trị của những ông hoàng Stuart kể từ vua James I có những biến động mới.

James I vốn là vua của Scotland. V́ thế, khi lên ngôi vào năm 1603 nhà vua đă hậu thuẫn cho ḍng người Scotland tràn vào cư trú ở Luân Đôn với những chính sách ưu đăi. Có lẽ, thành tựu đáng kể nhất thời James I chỉ là hệ thống cấp nước sạch cho thủ đô - New River Scheme, được giám sát trước tiên bởi City Corporation và sau đó là  Hugh Myddelton với sự giúp đỡ từ nhà vua. Vua James không phải là một hoàng đế được ưa chuộng, thậm chí c̣n bị chống đối. Tại buổi khai mạc của nghị viện tại cung điện hoàng gia ở Westminter năm 1605, nhà vua đă suưt bị ám sát. Mưu đồ sặc mùi súng đạn ấy đă bị lộ và thủ phạm bị vây bắt.

 

Sang thời Charles I th́ Luân Đôn tràn ngập không khí bất ổn. Nhà vua cố t́nh phớt lờ bản hiến chương tự do mà vua John đă kí từ những thế kỉ trước, đối  đầu với nghị viện. Luân Đôn chịu ảnh hưởng rất lớn bơỉ cuộc nội chiến khi đứng về phía nghị viện với người lănh đạo là Cromwell chống lại phe bảo hoàng, bảo vệ quyền tự do vốn trở thành truyền thống của ḿnh. May thay, Luân Đôn đă thành công.

 

Sang thời ḱ bảo hộ của Cromwell, có một sự kiện đáng chú ư là cộng đồng Do Thái quay lại thành phố. Kể từ năm 1292 khi họ bị vua Edward I trục xuất, chỉ có một vài dấu hiệu nhỏ cho thấy sự có mặt của họ ở Luân Đôn. Trong thời nội chiến, Cromwell đă thuê họ cho những hoạt động bí mật của ḿnh. Luật Anh không ngăn cấm sự định cư của người Do Thái. Năm 1657, một hội đạo Do Thái được mở công khai ở Creechurch Lane  và một nghĩa địa của họ đă được chỉ định tại  Mile End.

 

 

Phục hồi chế độ quân chủ, nỗi kinh hoàng của bệnh dịch và hoả hoạn


Năm 1660, CharlesII về nước, giành lại vương triều mà cha ḿnh đă đánh mất, khôi phục lại chế độ quân chủ. Tuy nhiên, ở Luân Đôn, nhà vua đă không may mắn ǵ khi trong suốt tḥi gian trị v́ phải đối đầu với hai tai hoạ lớn : bệnh dịch và hoả hoạn.

 

Ngay từ thời trung cổ, bệnh dịch đă trở thành một mối nguy hiểm liên miên đối với nhân dân Anh quốc.  Đến năm 1665, bệnh dịch đă “bùng nổ”, bắt đầu ở  St. Giles-trên những cánh đồng rồi  trải dài, làm kiệt quệ các vùng Stepney, Shoreditch, Clerkenwell, Cripplegate, St. Giles's and Westminster. Tuy nhiên, trong thành phố Luân Đôn, bệnh dịch được hạn chế tương đối.

 

Tháng 6 năm đó, nhà vua và cận thần rời Luân Đôn, không quay lại cho đến tháng 2 năm sau. Một buổi họp của nghị viện được tiến hành trong vài ngày ở Oxford bàn cách đẩy lùi dịch bệnh, ngài thị trưởng John Lawrence phải chịu trách nhiệm chính cho thành phố. Người ta đă phải” lao tâm khổ tứ” trước khi hạn chế được thứ bệnh truyền nhiễm chết người ấy. Tuy nhiên, hậu quả mà nó để lại th́ thật đáng kinh hoàng : trong gần 100.000 cái chết có trong sổ sách của Luân Đôn năm 1665 th́ có tới 68.000 là kết quả của dịch bệnh.

 

Như thể “hoạ vô đơn chí”, vào thời gian của đám cháy lớn, bệnh dịch vẫn hoành hành ở Luân Đôn. Sáng sớm ngày chủ nhật 2/10/1666, tại một cửa hàng bánh ḿ ở Pudding Lane, gần London Bridge không rơ lí do ǵ đă bùng cháy.  Những ngôi nhà gần đó vốn dựng san sát nhau và làm bằng gỗ nên nhanh chóng bắt lửa và ngọn lửa nhanh chóng lan rộng tới tận bờ sông nơi có một khối lượng lớn chất đốt được lưu lại. Lửa cũng sớm phá huỷ hệ thống cung cấp nước nên những vùng quanh đó đă  không có nước  để chiến đầu với lửa. Ngọn lửa lan rộng rất  nhanh tới tận trung tâm của thành phố và sớm đe doạ  Royal Exchange, Lombard Street và Cornhill, một vùng rất thịnh vượng.

   

Ngọn lửa cuốn ngày càng xa hơn tới trung tâm thủ đô bởi gió thổi liên tục suốt 3 ngày đầu tiên. Cuối cùng của ngày thứ hai, dọc bờ sông đă bị tàn phá và lửa đă nhấn ch́m Cornhill, the Poultry và đe doạ Cheapside. Người viết nhật kí,  Samuel Pepys, người đă miêu tả ngọn lửa ban đêm như một cầu vồng lửa khổng lồ (bow of flame). Khi cách bơm nước trực tiếp vào lửa không c̣n có hiệu quả, chỉ có môt cách thực sự để chiến đấu với lửa là phá đổ những ngôi nhà đang cháy trước khi nó lan rộng hơn. Người ta dùng những cái sào, những cái ŕu, những cái thang, tất cả những ǵ có thể ngăn chặn ngọn lửa lan rộng.


Quân đội và công nhân bốc xếp cũng đă được huy động để giúp đỡ.  Sáng thứ ba,  gần một nửa thành phố trong những bức tường thành  bị cháy  gồm cả Guildhall. The Custom House và  Royal Exchange bị thiêu trụi và thánh đường hoa lệ của  St Paul'  gần như bị phá huỷ. Lửa tiếp tục thiêu cháy qua Cheapside và những luỹ thành London ở  Cripplegate, Newgate và Ludgate. Từ đó, nó nó chuyển dọc theo Fleet Street, gần cho đến tận Temple Bar. Trong ngày thứ tư, gió yếu đi,  lửa chậm lại và tạm nghỉ.

 

Kết quả của đám cháy : chỉ có một phần năm thành phố có tường bao phủ là c̣n lại, với  273 vùng bị cháy. Ngoài thành, 63 vùng bị đổ nát và tổng 87 nhà thờ đạo và 13,200ngôi nhà bị mất. Đó là một sự tàn phá khủng khiếp chưa từng thấy cho đến chiến tranh thế giới thứ hai với những cuộc đánh bom chớp nhoáng đầy khốc liệt...

 

 

Khôi phục lại thành phố


Lửa đă làm biến đổi nhũng nét đặc trưng của Luân Đôn măi măi. Ngài Chistopher Wren và ngài John Evelyn vạch định kế hoạch và thiết kế lại thành phố nhưng không thể thực hiện được hoàn hảo v́ thiếu ngân sách của chính phủ. Đạo Luật Xây dựng lại ( Rebuilding Act) được ban hành năm1667 đă ghi rơ  nhà chỉ được xây lại bằng gạch hoặc đá. Thành phố mới dần được hồi phục với những ngôi nhà  bằng gạch và những con phố rộng răi hơn. Nhiều toà nhà  Livery Companies đă được thay thế, cùng với Custom House and the Royal Exchange. Guildhall được khôi phục nhưng sự hoàn thiện nó bị chậm trễ tới năm 1675. Trong số những “sản phẩm” đáng kể của thời ḱ này là những nhà thờ được xây dựng lại bởi ngài  Christopher Wren. Ông bắt đầu  làm việc với 10 trong số những nhà thờ ấy, 4 năm sau đám cháy. Thứ c̣n lại, vẫn chưa hoàn chỉnh  được vào thế kỉ sau. Thậm chí St. Paul's c̣n  chưa được hoàn thành cho tới năm  1712.

 

Sau đám cháy, thành phố trở thành trung tâm thương mại rơ rệt hơn. Những người có máu mặt ( không phải quí tộc) chọn làm nhà tới phía Tây , ở Covent Garden và Lincoln's Inn Fields và mở rộng dần khi thời gian trôi chảy.

 

Đám cháy cũng nêu bật sự cần thiết của những hoạt động công cộng. Cho đến sau này, mỗi chủ hộ đều phải có trách nhiệm trong vấn đề thắp sáng, tu sửa, quét tước dọn dẹp đường phố trước cửa nhà anh ta và giữ trật tự địa phương . The Sewers Act năm 1671 tạo lập hội đồng bảo vệ chịu trách nhiệm trong việc bảo dưỡng, hệ thống thoát nước và làm sạch đường phố của Luân Đôn. Chi phí cho hoạt động này lấy từ thuế địa phương.

 

Charles II là ông vua cuối cùng dám giới hạn quyền tự do của đă được thiết lập lâu đời ở thành phố của Luân Đôn. Nhà vua đă cách chức một vài uỷ viên hội đồng thành phố năm 1683 và thay thế họ bằng ngướ của chính ông. Tuy nhiên, việc này không kéo dài bởi năm 1685, nhà vua mất

Vua Jame nối nghiệp, nhưng trong suốt thời ḱ trị v́ ngắn ngủi của ḿnh, triều đ́nh náo loạn và thành phố thu hồi được quỳên tự trị của ḿnh.

 

Tháng 12/1688, Luân Đon ủng hộ những người trong nghị việc mời William xứ Orange, con rể vua James về thoán đoạt ngai vàng. Nhà vua mới rất hài ḷng khi Hampton Court  là dinh thự hoàng gia chính của ông ta. Dinh thự này  đă được xây dựng lại nhiều bởi ngài Christopher Wren.  May mắn thay, kiến trúc sư này thiếu tiền, điều này có nghĩa là nhiều kế hoạch to lớn của ông ta bị làm ngơ và những toà nhà cổ kính thời Turdo văn tồn tại.

 

 


Luân Đôn thời Georgian